- Tin tức văn nghệ
- Cử nhân… bò
Cử nhân… bò
NGUYỄN THANH
Tặng anh Trần Văn Thảo
Hôm ấy, tin thầy Thảo gốc giáo viên tiểu học đậu Cử nhân vừa loan ra, gây nên hai luồng dư luận khác nhau. Người hiểu hoàn cảnh Thảo, tỏ ra chân thành khâm phục, coi anh như tấm gương sáng điển hình cho một ý chí tự học, tự cầu tiến hiếm thấy. Người không biết hoặc có thành kiến thì chưa tin hoặc hoài nghi đến độ mỉa mai về thành quả học tập rực rỡ của anh.
Xuất thân từ một gia đình nông dân mà gần hết họ hàng trong bao thế hệ coi trọng việc “vác giạ đong lúa” hơn là đong chữ, Thảo đã phấn đấu hết sức cam go trong học tập từ lúc bập bẹ, từng chữ A, B,… ở trường làng tới khi anh bước chân qua ngưỡng cửa đại học.

Minh họa: AI.
Biết cha Thảo dự định cho Thảo khởi sự vào học lớp Năm(1), cô Ba của Thảo bảo với cha anh: “Thằng Năm nó ốm yếu, lại hay bị lên suyễn, cậu nên để nó ở nhà sau này trông coi vườn tược là hơn”. Cha mẹ Thảo, không nói gì. Những ngày đi học trời mưa lạnh lẽo, đường đất trơn trợt, cha muốn Thảo ở nhà vì sợ bị bệnh, Thảo không đồng ý, nằn nì, nhất quyết xin đến trường. Nếu không được thỏa mãn, Thảo chui trốn dưới gầm bàn chẳng chịu ăn cơm. Cha Thảo cưng con, đành cho Thảo đi học mà không quên bỏ vào túi áo bà ba đen Thảo mặc một chai thuốc suyễn hiệu: “Nhơn sâm hạ khí trừ đàm hiếu suyễn hoàn” (viên sâm hạ khí trừ đàm cho người bị bệnh suyễn) của nhà thuốc Á Châu ở Chợ Lớn và căn dặn con nhớ uống thuốc khi bị lên cơn bệnh. Thảo cũng đem theo phòng hờ một gói tiêu hột để trợ lực cơ thể vì bệnh suyễn rất sợ lạnh. Dù mang căn bệnh ngặt nghèo ngay từ nhỏ sau khi bị chó cắn, Thảo đã phấn đấu một cách say mê trong học tập. Cuối năm lớp Ba, Thảo sang tỉnh thi, đậu được “Văn bằng sơ đẳng tiểu học” với lời khen “khá tiếng Pháp”. Rời trường làng, Thảo vào học lớp Nhì (2) ở tỉnh. Ham học, tính nết lại ngoan hiền, luôn được thầy thương bạn mến, từ các lớp tiểu học đến các năm ở trung học, Thảo thường đứng nhất lớp hầu hết các môn thi và luôn được xếp ưu hạng với hạnh kiểm thật tốt vào cuối năm học do hội đồng giáo viên. Tên Thảo luôn được ghi lên “Bảng danh dự” treo ở một nơi trang trọng của nhà trường.
Tình hình kinh tế của đất nước và địa phương lúc bấy giờ đang gặp khó khăn do ảnh hưởng của hoàn cảnh chính trị. Cha mẹ Thảo vất vả công việc ruộng vườn, thắt lưng buộc bụng lo cho anh em Thảo ăn học, mà gia đình lần lần lâm vào cảnh túng thiếu. Những cây xoài cằn cỗi ít trái bị đốn, đem bán làm củi. Mấy công ruộng xa nhà, cha Thảo cũng sang lần cho người khác. Nhiều đêm nghĩ đến gia đình ở quê nhà, Thảo cảm thấy xót xa, yêu thương cha mẹ vô cùng. Để bù đắp phần nào vào công ơn to lớn của các bậc sinh thành đó, Thảo càng tập trung vào học tập, luôn giữ vững được thành tích đã đạt.
Biết cha mình thích nghề dạy học nên sau khi đậu Trung học Đệ nhất cấp, sức học còn đang vươn lên như chồi non, nghĩ đến gia đình, thương cha mẹ, Thảo xin thi vào trường Quốc gia Sư phạm ở Sài Gòn. Chăm chỉ học hành, anh đã tốt nghiệp sau ba năm với ngạch giáo học bổ túc. Thảo chọn dạy tại một trường tiểu học huyện không xa mấy tỉnh nhà để được gần gũi các em còn đang đi học. Cuối tuần anh đi xe hơi về thành phố gặp các em. Sáng chủ nhật, Thảo chạy xe đạp về quê thăm cha mẹ, anh chị, hỏi han thêm công việc ruộng vườn.
Ổn định xong nhiệm sở chính của mình, Thảo xin dạy thêm ở Trung tâm văn hóa cho một người bạn học cũ tổ chức. Anh dành dụm phần tiền thu nhập thêm để mua sách tự luyện thi tú tài. Mỗi đêm, Thảo vừa soạn bài dạy cho học trò, anh vừa phải dành riêng thời gian cho mình để chuẩn bị vào thi trường. “Đi không chẳng lẽ lại về không ? – Cái nợ cầm thư phải trả xong”. Anh thường lẩm nhẩm trong óc hai câu thơ đầu trong bài “Đi thi tự vịnh” của Nguyễn Công Trứ như thế. Sau khi đậu bằng Tú tài phần nhất (3) Thảo được chuyển lên dạy trường Trung học huyện.
Một lần, mẹ Thảo từ quê ra thành phố thăm anh em Thảo với một giỏ xoài chín và xâu khô cá lóc:
- Con lớn rồi, tao với cha mày đã già yếu mà chưa có cháu nội. Làm gì bây cũng phải lo việc vợ con. Mẹ Thảo, vừa nhai trầu, vừa nói chậm rãi vẻ mặt thoáng buồn khi nhìn thấy anh cầm kim kết lại cái nút áo bị sứt, hay khâu lại cái lai quần đứt đường chỉ. Anh thương mẹ một đời tần tảo suốt năm bán từng bó rau, trái mướp, chắt chiu dành dụm từ đồng từ cắc lo cho các con ăn học. Nhìn mái tóc mẹ hơn nửa phần ngả sang màu trắng, Thảo nghe lòng thấm đượm bao nỗi xót xa, khiến anh càng nghĩ ngợi sâu xa hơn những lời mẹ anh vừa nói.
Sau ba năm dạy học, anh gặp Thủy, một cô giáo nghèo, sớm mồ côi cha đang dạy ở trường tiểu học cùng huyện. Qua sinh hoạt chung ở trường học và những lần Thủy đến nhà anh chơi, Thảo dễ nhận ra cô ta có quan tâm đến mình dù anh biết Thủy từng có vấn đề tình cảm với một giáo viên cùng tỉnh trước khi cô đổi về đây. Cha Thảo trong một lần gặp Thủy cũng nói:
- Tao coi bộ con Thủy nó thương mầy.
***
Cưới Thủy được một năm thì Thảo và vợ được đổi về dạy ở tỉnh nhà của anh. Thảo sắp xếp lần việc gia đình để lo học thêm. Thủy thông cảm với chồng, quán xuyến hầu hết công việc nhà cửa để anh yên tâm lo việc sách đèn. Hơn một năm sau, Thủy sinh đứa con gái đầu lòng thì anh đậu liên tiếp trong năm Tú tài toàn phần Toán (B) và Tú tài toàn phần Văn chương – Sinh ngữ (C). Vươn lên từ cuộc sống đạm bạc của gia đình để có được kết quả đó, Thảo thỏa mãn đón nhận niềm hạnh,phúc cho Thủy và cả cha mẹ anh. Trong khi bạn bè Thảo có được chỗ đứng trong xã hội, đứa thì lo làm giàu, đứa lại sa đà vào cảnh hưởng thụ ăn chơi, tất cả nhìn Thảo như một thằng say chữ, ngờ nghệch không thực tế… Mặc họ, mỗi người có một nhân sinh quan riêng, Thảo sống theo phương châm, “lý tưởng” cho riêng mình. Ngoài những buổi dạy ở trường công, Thảo xin dạy thêm một số giờ ở các trường tư. Anh bố trí giờ giấc hàng ngày, hàng tuần hợp lý, hết sức tiết kiệm thời gian để tập trung vào mục tiêu chính “Làm việc hết mình và không ngừng cầu tiến” Thảo luôn nói với lòng mình như câu kinh nhật tụng như thế. Ngoài những buổi đến trường lớp hay gặp mặt thù tạc phải có với bạn bè, anh đều có ở nhà, rút vô một góc phòng yên tĩnh để “tu luyện”. Thảo cương quyết giảm bớt sự tiếp xúc không cần thiết với mọi người. Hiểu và thương chồng, đêm đêm sau khi soạn bài và dỗ xong giấc ngủ cho con, Thủy ngồi bên cạnh võng quạt muỗi cho anh đọc bài, hay pha cà phê cho Thảo uống để anh trấn áp cơn buồn ngủ. Những lúc ấy, Thảo thấy càng thương vợ mình nhiều hơn, đôi khi lóe sáng lên trong đầu anh ý nghĩ: “Một mai anh chiếm bảng vàng. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Sực tỉnh, anh tự cười thầm, cho mình là quá nuôi cao vọng. Rồi anh nồng nhiệt khẳng định một cách tin tưởng: “Muốn tiến trong đời, ai mà không ngó cao. Phải ngước nhìn lên trời xanh mới thấy được sao Bắc đẩu chứ”. Thảo coi tư tưởng đó là một kim chỉ nam, soi đường hành động cho anh. Đôi lúc quên đi những mệt mỏi về tinh thần và nỗi lo toan nặng trĩu về vật chất cho vợ con, Thảo cũng cảm nhận được nhiều sự an ủi của những người gần gũi anh hàng ngày. Những lúc bận dạy, vào trường đại học trễ thì đã có các bạn sinh viên giữ chỗ ngồi trước cho anh hoặc lãnh hộ bài học, truyền lại thông tin cần thiết giúp anh. Cả những bạn đòi anh “lo lót”, “trả công” bằng chai bia hay ly đá đậu, Thảo cũng vui vẻ chấp nhận. Dạy học, đến giảng đường ghi “cours” rồi về đến nhà thì trời tối mịt, Thảo mệt nhoài thể xác, đầu óc chếnh choáng men bia cũng cố giúp vợ làm các công việc lặt vặt ở nhà trong buổi tối cho xong mới ngồi vào bàn học. Anh thấy ấm áp hơn khi nhìn Thủy tiếp tục mang cho anh tách cà phê đen hay un cho anh một mẻ vỏ bưởi, vỏ quít khô để trừ muỗi, rồi đặt dưới gầm bàn viết nơi anh thường ngồi làm việc. Mùi cháy nồng hăng hắc của vỏ bưởi hô quyện với hơi khói cay cay bốc lên từ mẻ thau un muỗi, làm ấm áp chân Thảo, rưng rưng mắt Thảo, bay lan khắp phòng gây cho anh một cảm giác quen thuộc dễ chịu…
***
Sáng ngày nhận được thư mời dự lễ Tốt nghiệp Cử nhân, nhìn chiếc phong bì dài, trắng tinh xinh xinh như màu áo nữ sinh, Thảo nghe tim mình đập mạnh. Như có một luồng hơi nóng râm ran chạy khắp người, anh cảm giác đôi mắt mình ươn ướt nóng dần. Trang giấy mỏng manh, xếp ba nằm trong đôi tay anh trở nên nằng nặng như có linh hồn, ăm ắp bao nghĩ suy và kỷ niệm ân tình. Thảo viết ngay thư tay, nhờ người chủ tàu quen, gởi về quê mời cha ra tỉnh dự lễ Đăng khoa của anh…
Buổi lễ được tổ chức long trọng trên một khuôn viên rộng của trường đại học. Khán đài lớn có mái che nổi bật lên, trang nghiêm giữa những hàng cờ phướn rực rỡ đủ màu. Các vị tân khoa, vẻ mặt tươi thắm, đi đứng chậm rãi, xúng xính e dè trong bộ lễ phục màu đen mới mặc lần đầu. Thảo nắm tay cha, hướng dẫn đến một chiếc ghế còn trống trên khán đài sau khi chụp nhanh nhẹn mấy “pô” hình. Hơi ấm quen thuộc của bàn tay cha già chai cứng, mùi long não phảng phất từ bộ áo lạ, khiến anh vừa ngất ngây, vừa sung sướng. Thảo xúc động, trong một thoáng, trí nhớ quay lại chuỗi ngày sách đèn luyện tập đầy gian nan cực nhọc đã qua. Chính nhờ một nghị lực bất biến kèm theo sự đam mê được thăng hoa trong biển chữ, Thảo mới được một chỗ đứng có ý nghĩa trong xã hội. Hôm nay, anh thực sự là cử nhân. Thấy vậy, có bạn thân của Thảo gọi vui anh là Cử nhân… bò!. Anh không tự ái, không giận bạn mà chấp nhận câu nói ấy như một chân lý. Nghĩ lại, tự đáy lòng mình, Thảo còn khắc ghi mãi nghĩa ân sâu nặng của những người làm cỏ, quét rác, dọn đường sạch sẽ hay cỗ vũ cho anh bò tới đích nhắm của mình. Đó là những người bạn hiểu anh, cha mẹ anh, thầy cô đã dạy anh và bao người tốt xung quanh từng giúp đỡ, khuyến khích anh. Nghĩ tới họ, Thảo cảm thấy yêu đời hơn, tự tin hứa với lòng mình sẽ còn tiếp tục bò… nữa. Bất chợt Thảo lẩm bẩm thầm trong óc : “ Đó là cái giá phải trả nếu mình có ước vọng bay cao hơn trong đời. ”
Tây đô, 22.05.2026
NT