- Ngôn ngữ-Lý luận - Phê bình
- Lê Khánh Mai – “Oan nghiệt phận thơ” và hành trình bứt phá của một tâm hồn nữ
Lê Khánh Mai – “Oan nghiệt phận thơ” và hành trình bứt phá của một tâm hồn nữ
LÊ NGỌC TÚ
“Chọn nghề văn, được đào tạo nghề văn, suốt đời chỉ làm duy nhất nghề văn, tôi thấm thía đến tận cùng nỗi khổ ải và niềm hạnh phúc của nghề này.”
Đó không phải là lời khoe hay lời than, mà là một lời tự bạch, một sự thật sống sờ sờ mà nhà thơ Lê Khánh Mai đã gánh trên vai suốt hơn năm thập kỷ cầm bút. Với bà, văn chương không phải thứ để mua vui, cũng chẳng phải lối thoát tạm bợ. Văn là mệnh. Là “giời đày” mà cũng là duyên nợ thiêng liêng nhất của một đời người.
a.jpg)
Nhà thơ Lê Khánh Mai và bìa tập thơ "Mật ngôn của tình yêu".
1.
Năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, đất nước tạm thời chia cắt, Lê Khánh Mai – khi ấy vừa tròn bốn mươi ngày tuổi – đã theo gia đình ra miền Bắc tập kết. “Tôi được sinh ra trên đất mẹ Khánh Hòa nhưng lớn lên ở miền Bắc, như một cây lúa cấy dặm”, bà từng viết. Cái cảm giác “lạc loài” giữa quê hương thứ hai ấy có lẽ đã ươm mầm cho một tâm hồn luôn khắc khoải kiếm tìm bản thể, một nỗi ám ảnh sẽ trở đi trở lại trong thơ bà.
Học trường phổ thông rồi vào khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, Lê Khánh Mai sớm bộc lộ năng khiếu văn chương. Năm 1971, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, bà đã bắt đầu viết. Những trang viết đầu đời ấy có thể còn non nớt, nhưng đã mang dấu ấn của một tâm hồn đa cảm, không chịu nằm yên trong khuôn khổ. Tốt nghiệp xong, bà được phân công về Nha Trang dạy học – quê hương đúng nghĩa, nơi bà chưa một lần được sống trọn vẹn. Một sự sắp đặt như định mệnh: cô bé bốn mươi ngày tuổi ra đi, giờ trở về làm cô giáo dạy văn trên chính mảnh đất mẹ cha.
Những năm dạy học, bà không ngừng trau dồi. Năm 1996, bà bảo vệ thành công Thạc sĩ Văn học tại Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Từ giảng đường phổ thông, bà lần lượt làm biên tập viên Nhà xuất bản, chuyên viên văn hóa, rồi Phó Chủ tịch, Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Nha Trang. Những năm tháng ấy, bà vừa làm công việc quản lý, vừa viết, vừa nâng đỡ các cây bút trẻ – một sự cống hiến thầm lặng nhưng đầy tâm huyết.
2.
Lê Khánh Mai viết nhiều, viết khỏe và viết có chiều sâu. Đến nay (2026), bà đã xuất bản 12 đầu sách, bao gồm 7 tập thơ, 1 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn, 1 chuyên luận văn học, 1 tập tiểu luận phê bình, 1 tập tản văn và tùy bút. Con số ấy nói lên một sức lao động nghệ thuật bền bỉ, không biết mệt mỏi.
Tập thơ đầu tay Trái chín (1990) ra đời khi bà đã ngoài ba mươi lăm tuổi – muộn mằn so với nhiều cây bút cùng thời, nhưng lại chín chắn và lắng sâu. Bà không viết để vội, bà viết để sống. Tiếp đó là Hoàng hôn trắng (tiểu thuyết, 1992), Nước mắt chảy về đâu (thơ, 1998), Cổ tích xanh (thơ, 2000), Cát mặn (thơ, 2001), Đẹp, buồn và trong suốt như sương (thơ, 2005), Nết (truyện ngắn, 2005), Vọng âm của mạch ngầm (tiểu luận phê bình, 2008), Giấc mơ hái từ cơn giông (thơ, 2008), Mật ngôn của tình yêu (thơ, 2019), Văn học dân gian người Việt ở Khánh Hòa (chủ biên, 2019) và mới nhất là tập tản văn Những mạch sống nâu trầm (2023).
Có thể thấy, Lê Khánh Mai không chỉ là nhà thơ. Bà viết truyện, viết tiểu luận, nghiên cứu văn học dân gian – một sự nghiêm túc hiếm thấy của một cây bút nữ ở vùng đất xa trung tâm. Với bà, viết là để hiểu mình, hiểu người, hiểu cái phận của một kiếp “đa tình” sinh ra đã mang nợ văn chương.
3.
Nhưng phía sau những trang viết rực rỡ hình tượng, Lê Khánh Mai cũng trải qua vô vàn day dứt. Bà viết trong bài thơ Nhà thơ nữ bứt phá:
Người khuyên: thơ nên bám vào đời sống
bạn chê thơ ta cũ rồi
ta cũng chán điệu thơ đều chằn chặn, hiền lành, ướt đẫm
vang tự hồn sâu: phải sống khác thôi
không sống khác không thể nào viết được
Một nhà thơ nữ, ở độ tuổi xế chiều, khi những bổn phận gia đình, con cái, công việc chồng chất, vẫn dám đứng lên tuyên ngôn: “phải sống khác”. Câu thơ ấy như một nhát cắt vào định kiến rằng người phụ nữ làm thơ chỉ nên viết những điều nhẹ nhàng, đằm thắm, đúng khuôn, đúng phép. Lê Khánh Mai không chịu khuôn. Bà muốn bứt phá, muốn “đi hoang” – một cách nói rất riêng để chỉ sự dấn thân, sự xê dịch khỏi những mối dây an toàn:
Gom từng đồng còm nhuận bút ta đi hoang
vừa khỏi nhà đã thân gái dặm trường
đi đâu? Về đâu chợt nhận ra mình chưa bao giờ định trước
Nhưng rồi, cái vòng quay của bổn phận vẫn níu kéo. Bài thơ khép lại bằng một khổ thơ ám ảnh:
Về nhà
con vui thoát việc bếp núc
mắt ai ngun ngún buồn
ta ru bình yên ngày thường
oan nghiệt phận thơ – tiếng kêu máu vỡ
“Tiếng kêu máu vỡ” – đó không phải là sự bi lụy hay nạn nhân hóa. Đó là sự thực. Là sự giằng xé giữa hai tiếng gọi: một từ bếp lửa, con thơ, từ ánh mắt người chồng đợi chờ; và một từ những vần thơ đang vẫy gọi, những con chữ “như chú ngựa bất kham trong lồng ngực”. Chua ngọt đời văn của Lê Khánh Mai không chỉ là chua ngọt của những giải thưởng hay thất bại, mà là chua ngọt của sự lựa chọn – lựa chọn để không phụ lòng ai, cũng không phụ lòng mình.
4.
Không thể nói về thơ Lê Khánh Mai mà không nói về tình yêu. Nhưng tình yêu trong thơ bà không đơn thuần là rung động đôi lứa. Đó là tình yêu được đặt trong chiều kích của thời gian, của mất mát và của cả sự siêu thoát.
Tập thơ Mật ngôn của tình yêu (2019) – tập thơ được tặng Giải A của UBND tỉnh Khánh Hòa – là một minh chứng rõ nhất. Ở đó, người đọc bắt gặp một tình yêu vừa nồng nàn, vừa đau đớn, vừa khao khát lại vừa buông bỏ. Hình ảnh “anh hoá thành mây trắng” xuất hiện nhiều lần, gợi một người bạn đời đã khuất – một mất mát lớn trong đời bà. Nhưng thay vì chỉ viết về nỗi đau, Lê Khánh Mai đã nâng tình yêu ấy lên thành một thứ “mật ngôn” – linh thiêng, bí ẩn và vĩnh cửu.
đêm
căn phòng trống trải
bỗng ngập tràn mùi hương ân ái
cái mùi hương đi vắng đã mười năm trở về
ướp lên mái tóc em
ủ thơm chăn gối
mơn man da thịt hồi sinh
Những câu thơ như một giấc mơ tỉnh, hay một cơn mộng du giữa thực tại và hoài niệm. Có thể nói, chưa bao giờ một nhà thơ nữ Việt Nam nào dám viết về tình yêu với người đã khuất một cách táo bạo, chân thực và đầy nữ tính đến vậy. Không hề “bứt phá” kiểu hô hào, mà bứt phá từ chính sự chân thành tột cùng.
Nhà thơ Lê Khánh Mai cũng viết nhiều về những người đàn bà khác: người đàn bà bán rau, người đàn bà gom rác, người đàn bà nội trợ, người đàn bà goá bụa, và người đàn bà làm thơ. Họ có điểm chung: đều đối diện với định kiến, với “bất công tạo hoá”, đều “nhẫn nại cưu mang nỗi mặc cảm không lời”. Nhưng họ không gục ngã. Họ “dịu mềm ẩn trong khô xác” và “bí mật dìu nỗi cam phận đi trên thế gian”.
Có lẽ đó chính là cái cách Lê Khánh Mai nhìn về thân phận người nữ: không phải để thương hại, mà để trân trọng sức mạnh thầm lặng. Và cũng có lẽ, bà đã viết về chính mình qua muôn nghìn kiếp đàn bà ấy.
5.
Cống hiến miệt mài, Lê Khánh Mai đã nhận được những sự ghi nhận xứng đáng. Năm 2000, bà được trao Giải thưởng 25 năm Văn học Khánh Hòa (1975-2000) cho ba tác phẩm: tiểu thuyết Hoàng hôn trắng, tập thơ Trái chín và Nước mắt chảy về đâu. Năm 2001, tập thơ Cát mặn đoạt giải C của UBND tỉnh Khánh Hòa. Năm 2005, tập thơ Đẹp, buồn và trong suốt như sương nhận Giải Khuyến khích của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Nhưng có lẽ, thành tựu quan trọng nhất là tập thơ Mật ngôn của tình yêu – không chỉ được đánh giá cao bởi các nhà chuyên môn mà còn chạm đến trái tim nhiều độc giả. Năm 2019, tập thơ đoạt Giải A của UBND tỉnh Khánh Hòa, tiếp đó bà nhận Giải A Văn học 5 năm (2015-2020). Công trình nghiên cứu Văn học dân gian người Việt ở Khánh Hòa và tập tản văn Những mạch sống nâu trầm cũng lần lượt được vinh danh.
Có thể nói, Lê Khánh Mai là một trong những cây bút nữ tiêu biểu nhất của văn học Khánh Hòa, và cũng là một tiếng nói quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Bà không chỉ viết để khẳng định mình, mà còn viết để khẳng định tiếng nói của người phụ nữ – đặc biệt là người phụ nữ làm thơ – trong một xã hội còn nhiều định kiến.
6.
Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa, Ủy viên Ban Kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Khánh Hòa… Những chức vụ ấy nói lên một uy tín, nhưng với những ai từng làm việc cùng bà, ấn tượng sâu sắc nhất có lẽ không phải là “chức” mà là cái “tâm”.
Bạn bè văn chương kể rằng, Lê Khánh Mai rất khó tính trong chuyện chữ nghĩa. Bà có thể đọc đi đọc lại một bản thảo đến hàng chục lần, góp ý thẳng thắn và cặn kẽ. Nhưng với những cây bút trẻ, bà lại vô cùng bao dung, sẵn sàng bỏ thời gian đọc, viết giới thiệu và tìm cơ hội xuất bản cho họ. Có lẽ vì bà hiểu cái nhọc nhằn của “phận thơ” hơn ai hết.
Độc giả yêu thơ bà thì tìm thấy ở những vần thơ ấy một chỗ dựa tinh thần. Một bạn đọc từng viết: “Đọc ‘Tôi và thơ’ của chị, tôi bật khóc. Vì tôi cũng từng rơi xuống hố thẳm, cũng từng thấy thơ là thứ không làm tôi giàu có hơn, nhưng đúng là thơ đã vực tôi đứng dậy.” Có lẽ, đó là phần thưởng cao quý nhất mà một nhà thơ có thể nhận được.
Lê Khánh Mai từng tâm niệm: “Thơ là nước mắt, tiếng kêu, lời tự thú, sự cứu rỗi, nỗi ẩn ức tiền kiếp và niềm ký thác với muôn sau.” Đọc thơ bà, ta thấy rõ điều đó. Và cũng đọc thơ bà, ta thấy một con người đã sống hết mình với những nước mắt, tiếng kêu ấy, để rồi lại cất lên thành ánh sáng:
Ánh sáng chống lại bóng tối
đánh thức những cơn mê
bật dậy những hạt máu li ti
mạnh hơn ngựa chiến
Khúc vĩ thanh
“Trót dan díu với mưa nguồn
Trái tim chớp bể
Mãi còn đa đoan”
Ba câu thơ trong bài Tự cảm của Lê Khánh Mai có lẽ đã vẽ nên chân dung tinh thần của bà. Một người “trót” yêu thơ, “trót” mang nợ với chữ, với đời. Một trái tim “chớp bể” – dữ dội, mãnh liệt và không bao giờ nguôi sóng gió. Và “mãi còn đa đoan” – không chỉ trong tình yêu, mà trong cả cách bà nhìn nhận nhân sinh, trong cả cách bà đau với những thân phận đàn bà lặng lẽ xung quanh.
Hành trình văn chương của Lê Khánh Mai là hành trình của một người phụ nữ đi tìm bản thể, đi tìm tiếng nói của riêng mình giữa muôn vàn định kiến và bổn phận. Bà đã không chọn con đường dễ dàng. Bà đã vắt kiệt mình cho những vần thơ. Nhưng nhờ thế, bà đã để lại một di sản văn học đáng trân trọng và một tấm gương về lòng yêu nghề, yêu đời.
“Sao bây giờ
yên ổn vòng tay anh
em vẫn khát viết vần thơ định mệnh”
Đó chính là Lê Khánh Mai. Một nhà thơ nữ luôn khát, luôn bứt phá, và luôn “oan nghiệt” với phận thơ. Nhưng chính cái oan nghiệt ấy làm nên một hồn thơ đẹp, buồn và trong suốt như sương.
Trong cõi sách và cõi người, tên bà sẽ còn mãi, như “những mạch sống nâu trầm” – lặng lẽ, bền bỉ và đầy sức sống.
LNT