TIN TỨC
icon bar

Khi biển thức trong phố

Người đăng: nguyenhung
Ngày đăng: 2026-09-20 10:57:54
mail facebook google pos stwis
146 lượt xem

VỀ THƠ VĂN NGUYÊN HÙNG
(Mời click vào dòng chữ trên để truy cập chuyên mục)

"Biển thức trong phố" được hình thành từ những rung động sau chuyến hải trình đến Trường Sa và Nhà giàn DK1 đầu tháng 5/2026. Người viết bài giới thiệu in đầu tập thơ – Đại tá Nguyễn Công Thắng, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân – cũng chính là Trưởng đoàn công tác số 14 trong chuyến đi ấy, vì thế những trang viết của ông mang thêm sự đồng hành và sẻ chia của một người cùng trải qua hành trình. Tập thơ được Quân chủng Hải quân tổ chức in ấn và gửi trước một số bản để tác giả mang theo trong chuyến công tác đến các đảo biển Tây Nam và Nhà giàn DK1 từ ngày 11 đến 18/9 vừa qua. Một hành trình từ biển trở về phố, để rồi từ phố, những trang thơ lại theo người viết trở ra với biển.

 

KHI BIỂN THỨC TRONG PHỐ
 

Đại tá NGUYỄN CÔNG THẮNG

Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân

 

Đại dương không chỉ ở ngoài khơi

Trong dòng chảy của lịch sử giữ nước và dựng nước, biển đảo chưa bao giờ chỉ là một không gian địa lý đơn thuần. Đó là vùng "biên viễn tinh thần" thiêng liêng, là máu thịt và là cội nguồn của tâm thức người Việt từ ngàn đời. Thế nhưng, giữa bộn bề của phố thị ồn ào, làm sao để những hòn đảo cách xa hàng trăm hải lý bỗng trở nên gần gũi như nhịp thở? Làm sao để tiếng sóng Trường Sa vang vọng giữa những con đường rợp bóng cây xanh và dòng xe tấp nập nơi đất liền?

Câu trả lời không nằm trong những trang bản đồ hay những báo cáo khô khan. Nó nằm trong những trang thơ của tình yêu và sự thức tỉnh.

Tập thơ Biển thức trong phố của nhà thơ Nguyên Hùng không bắt đầu bằng sự hô hào, mà bắt đầu bằng một tiếng lòng đầy thổn thức. Tác giả – một người con sinh ra và lớn lên từ làng chài Cửa Hội, nơi tiếng sóng đã thấm vào từng tế bào từ thuở ấu thơ - đã thực hiện một chuyến hải trình không chỉ bằng những dặm đường sóng nước, mà bằng cả một tấm lòng hướng về miền khơi xa. Để rồi, khi con tàu cập bến, chuyến đi ấy không khép lại, mà mở ra một chiều kích mới: chiều kích của sự tự thức trong tâm hồn mỗi người trước chủ quyền thiêng liêng, trước cuộc sống của nhân dân và những hy sinh thầm lặng nơi đầu sóng.

Hải trình tâm thức - Từ "Biển xa" đến "Biển thức"

Lẽ thường tình, mọi chuyến đi đều khép lại khi con tàu cập bến, mỏ neo hạ xuống và những lữ khách trở về với guồng quay cuộc sống thường nhật. Thế nhưng, có những hải trình đặc biệt không khép lại ở bến cảng hay tại một cột mốc vật lý nào. Chuyến đi đến Trường Sa và nhà giàn DK1 vào đầu tháng Năm năm 2026 của nhà thơ Nguyên Hùng, đúng dịp kỷ niệm 71 năm Ngày thành lập Hải quân Nhân dân Việt Nam - chính là một hành trình mang sức sống trường tồn như thế.

Trước khi đến với Trường Sa, tác giả đã có chặng đường gắn bó với biển. Nhưng Trường Sa vẫn là một miền xa thẳm, một biểu tượng thiêng liêng mà mỗi người con đất Việt đều hướng về với niềm kính yêu tột độ. Trải nghiệm bảy ngày đêm trên con tàu Trường Sa 571, qua các đảo và nhà giàn DK1, đã làm thay đổi sâu sắc tâm thức của người nghệ sĩ. Đó không chỉ là một hành trình vượt biển, mà còn là hành trình cảm nhận sâu sắc sự gắn kết giữa đất liền với biển đảo, giữa hậu phương với những người đang ngày đêm làm nhiệm vụ nơi đầu sóng. Trong mạch nguồn tình cảm ấy, Quỹ “Vì biển đảo quê hương – Vì tuyến đầu Tổ quốc” là biểu tượng sinh động của trách nhiệm và nghĩa tình, góp phần tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ nơi biển đảo. Trên chuyến tàu Trường Sa 571, người nghệ sĩ không chỉ chứng kiến biển trời, đảo xa, những nhà giàn giữa trùng khơi, mà còn cảm nhận được sâu sắc tình cảm của hậu phương dành cho những người đang giữ biển. Chính những trải nghiệm ấy đã đưa tình yêu biển đảo và Tổ quốc từ cảm nhận trở thành rung động, từ rung động trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật.

Sự chuyển hóa ấy được nhen nhóm ngay từ những ngày chuẩn bị lên đường. Đọc lại những vần thơ mở đầu tập sách trong bài Trước ngày ra Trường Sa, ta bắt gặp niềm rung cảm chân thành đến nghẹn ngào:

"Nhận tin vui vào một chiều yên ắng

Mà tim tôi sóng dậy tự bao giờ

Nhiều năm tháng thầm hướng về xa vắng

Để lúc này... như đang bước trong mơ!"

Chưa tới nơi mà "sóng đã thầm thì" trong ngực. Đó không đơn thuần là sự háo hức của một chuyến đi thực tế, mà là tiếng gọi của máu thịt, của cội nguồn. Để rồi, khi tận mắt chứng kiến những "chàng trai ôm súng lặng thầm làm cột mốc giữa trùng khơi", tác giả đã tìm thấy câu trả lời cho sự thao thức trong lòng mình:

"Và như thế... giữa mênh mông biển nước

Tôi lặng im, để sóng nói thay lời

Chỉ nghe rõ trong mình điều thao thức:

Biển cũng là máu thịt của đời tôi!"

Chính khoảnh khắc ấy đã tạo ra bản lề cho sự chuyển hóa: Biển không còn là một khái niệm nằm ngoài khơi xa, ngoài giới hạn địa lý. Khi con tàu đưa đoàn công tác trở về quân cảng Cam Ranh, chia tay những con sóng bạc đầu, nhà thơ nhận ra rằng biển đã theo chân ông trở về phố thị. Biển ngấm vào từng cơn mưa hạ, từng hàng cây, vào tiếng trẻ em ríu rít đến trường mỗi sáng và trong cả những đêm dài thao thức. Trường Sa đã vượt qua giới hạn của một tọa độ trên bản đồ để hóa thành một phần ký ức, một nếp nghĩ, một phần máu thịt của tâm hồn. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của nhan đề Biển thức trong phố - nơi ý thức về chủ quyền và tình yêu đất nước không bao giờ ngủ quên, mà luôn hiện hữu, bồi đắp từng ngày trong nhịp sống đô thị bình yên.

Những "pháo đài nhân văn" - Trường Sa qua những lát cắt thi ca

Biển thức trong phố không mang dáng dấp của một bản tráng ca ào ạt hay những lời tuyên ngôn lớn lao. Sức nặng của tập thơ được bồi đắp từ những lát cắt chân thực, dung dị và đầy ắp hơi thở đời thường về cuộc sống nơi đầu sóng ngọn gió. Qua lăng kính của nhà thơ Nguyên Hùng, Trường Sa không chỉ hiện lên với những cột mốc chủ quyền sừng sững giữa đại dương, mà còn hiện hình qua tình quân dân keo sơn, qua mầm sống mãnh liệt và những hy sinh thầm lặng đến rơi nước mắt.

Sức mạnh bảo vệ chủ quyền của một quốc gia không chỉ được tạo nên từ những pháo đài thép hay vũ khí hiện đại, mà trước hết được bồi đắp từ "thế trận lòng dân" bền chặt. Giữa muôn trùng giông bão, hình ảnh người lính Hải quân và những ngư dân ngày đêm bám biển hòa quyện vào nhau, trở thành những điểm tựa không thể tách rời. Sự gắn kết máu thịt ấy được nhà thơ khắc họa vô cùng xúc động trong bài Nương vào nhau giữa biển (trang 78):

"Giữa ngư trường muôn trùng giông bão

Họ đến đây làm cột mốc không tên

Dẫu biển động, người không rời biển

Chủ quyền in bóng những con thuyền"

Đọc những câu thơ ấy, ta nhận ra một chân lý giản dị mà lớn lao: Chủ quyền quốc gia không chỉ nằm trên những văn bản pháp lý khô khan, mà hiện hình ngay trong nhịp vươn khơi bám biển của từng con thuyền, trong sự sắt son của những con người dẫu sóng gió bủa vây vẫn hiên ngang đứng vững. Ở nơi khơi xa ấy, mỗi ngư dân là một cột mốc sống, và mỗi người lính là hiện thân của đất mẹ che chở cho những hải trình bình yên.

Giữa điều kiện khắc nghiệt của nắng gió Trường Sa, nơi "đá khô rang từng thớ đất / cây non khát nước giữa trùng xa", sự sống vẫn mãnh liệt vươn lên bằng tình yêu và sự nhẫn nại phi thường của con người. Đó là màu xanh của những luống rau chắt chiu từng giọt nước ngọt, là tiếng trẻ thơ đánh vần dưới ô cửa lớp học nhỏ được ghi lại vô cùng tinh tế trong bài Ô cửa lớp nhìn ra biển (trang 42):

"Nhìn lớp ít học trò mà thương

Anh lớp Bốn ngồi bên em lớp Một

Bảng đen nhỏ chia nhiều hàng cột

Mỗi ô vuông là một bài học riêng"

Bên cạnh con chữ, sự hiện diện của những mái chùa cong, làn khói nhang lãng đãng, tiếng chuông chiều ngân vang giữa mây biếc đã neo giữ hồn quê, cội nguồn văn hóa bốn ngàn năm của dân tộc nơi tiền tiêu sóng gió (bài Mái chùa giữa biển, trang 25):

"Tiếng chuông chiều loang vào mây biếc

Gợi nhớ về nguồn cội bốn ngàn năm

Những mái chùa trên từng đảo nhỏ

Màu nâu trầm gợi bóng mẹ yêu thương"

Những lớp học, những mái chùa, những luống rau xanh mướt ấy chính là những "pháo đài văn hóa". Chúng khẳng định rằng ở nơi đầu sóng ngọn gió này, sự sống chưa bao giờ khô cằn, mà luôn sinh sôi, nảy nở bằng mạch nguồn văn hóa dân tộc bền bỉ qua muôn đời.

Đằng sau sự bình yên của những hòn đảo là mồ hôi, sức lực và cả sự hy sinh thầm lặng của những người lính đảo, những người thợ máy, anh nuôi và những chiến sĩ quân y tận tụy. Họ làm nhiệm vụ giữ biển không chỉ bằng súng đạn mà còn bằng trái tim nhân ái và tinh thần tận tụy. Hình ảnh người thầy thuốc, người chiến sĩ quân y giữa trùng khơi hiện lên như một điểm tựa sinh tử cho ngư dân, được nhà thơ chắt chiu qua bài Người giữ nhịp tim giữa biển (trang 64):

"Khi dân bệnh giữa biển khơi

Anh là điểm tựa làm vơi sóng gào

Có người vừa lặn biển sâu

Mang theo thương tích hằn đau khắp mình...

 

Đảo xa nào có phép màu

Chỉ người thầy thuốc cúi đầu thức canh

Giữ cho đường thở mong manh"

Họ chữa lành thương tích, nâng đỡ tinh thần, để những con tàu lại tiếp tục vươn khơi, giữ vững từng tấc đất, sải biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Thi pháp và sự chuyển hóa từ trải nghiệm

Một tác phẩm viết về Trường Sa dễ rơi vào lối hô hào và những câu chữ tuyên truyền khô khan nếu người cầm bút thiếu đi sự trải nghiệm thực tế và độ sâu cảm xúc cần thiết. Ở Biển thức trong phố, nhà thơ Nguyên Hùng đã vượt qua thử thách ấy bằng một lối viết dung dị, chân thành nhưng vẫn cho thấy một tư duy nghệ thuật sắc sảo.

Thơ viết về biển đảo của Nguyên Hùng không chọn cách đứng từ xa để ngợi ca bằng những mỹ từ hào nhoáng. Ông chọn cách bước lên tàu, lênh đênh qua bảy ngày đêm sóng gió, chạm tay vào từng cột mốc, lắng nghe tiếng thở của từng hòn đảo và để hiện thực tự cất lên tiếng nói của nó. Thi pháp trong tập thơ mang đậm tính tự sự nhưng lại được nâng đỡ bằng những rung động trữ tình dạt dào. Những chi tiết rất đời thường như một luống rau mọc nép sau tấm bạt chắn sóng (trang 38), một chú chó nhỏ nằm ngủ yên bình ngay mép nước thủy triều (trang 58), hay tiếng còi tàu hụ dài làm run cả tầng mây cuối trời (trang 30) đều được chắt chiu đưa vào thơ một cách tự nhiên. Chính những chi tiết cụ thể ấy đã kéo Trường Sa lại gần hơn với người đọc, biến những điều lớn lao về chủ quyền quốc gia thành những hình ảnh gần gũi, thân thuộc như ruột thịt.

Đọc Biển thức trong phố, ta bắt gặp những lớp biểu tượng được chắt lọc qua cái nhìn đầy trắc ẩn và tinh tế của nhà thơ:

Biểu tượng của sự sống: Không chỉ có súng đạn và thép gang, Trường Sa trong thơ Nguyên Hùng hiện lên xanh ngắt bởi những mầm cây được mang ra từ đất liền, bởi những giọt nước ngọt chắt chiu và tiếng trẻ em đọc bài dưới hiên nhà.

Biểu tượng của sự kết nối: Đó là những con dấu son đỏ thắm in trên trang sổ tay, trên những lá cờ mang về từ đảo xa để trao cho thế hệ mai sau (trang 85-87). Con dấu ấy không chỉ xác nhận một hành trình địa lý, mà là "chứng tích" của một tâm hồn đã neo giữ trọn vẹn hình hài Tổ quốc.

Một trong những giá trị nổi bật của tập thơ nằm ở quá trình chuyển hóa nội tâm của tác giả. Từ một người đứng ngoài quan sát đến khi hòa mình vào nhịp sống của lính đảo và ngư dân, Nguyên Hùng đã thực hiện một cuộc hành trình từ trải nghiệm sang nhận thức, và từ nhận thức thăng hoa thành trách nhiệm công dân. Thơ của ông vì thế không khép lại ở sự thỏa mãn thẩm mỹ cá nhân. Mỗi bài thơ là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc rằng: bảo vệ chủ quyền không chỉ là nhiệm vụ của những người đang cầm súng ngoài khơi xa, mà còn là sứ mệnh thiêng liêng của mỗi công dân đang sống giữa hòa bình nơi đất liền.

Biển thức trong phố - Thông điệp gửi về tương lai

Nhìn lại toàn bộ hành trình mà nhà thơ Nguyên Hùng đã đi qua trong Biển thức trong phố, ta nhận ra một điều vô cùng đáng quý: giá trị của một tập thơ viết về Trường Sa không nằm ở việc nó ghi chép bao nhiêu tọa độ hay miêu tả bao nhiêu công trình nơi đầu sóng. Giá trị cốt lõi của tác phẩm nằm ở khả năng đánh thức. Đánh thức điều gì nếu không phải là lòng tự hào dân tộc, là ý thức công dân và trách nhiệm thiêng liêng đối với từng tấc đất, sải biển mà cha ông đã đổ máu xương để gìn giữ.

Biển thức trong phố vì thế không chỉ là một lời tri ân sâu sắc gửi đến những cán bộ, chiến sĩ Hải quân, những ngư dân ngày đêm kiên cường bám biển giữ trời. Tập thơ còn là một món quà tinh thần giàu ý nghĩa dành cho những ai chưa từng đặt chân đến Trường Sa, nhưng trong lồng ngực vẫn luôn có một nhịp tim hướng về biển mẹ.

Gấp lại những trang sách cuối cùng, ta như vẫn nghe văng vẳng bên tai tiếng sóng vỗ rì rào từ các đảo chìm đảo nổi, tiếng còi tàu hú dài theo gió làm run cả tầng mây cuối trời, và cả tiếng gọi tha thiết của non sông. Ta hiểu rằng, những con sóng niềm tin ấy không dừng lại ở bến bờ của một tập sách thơ. Chúng sẽ tiếp tục lan tỏa, chảy bền bỉ vào phố thị, hòa vào nhịp sống hối hả mỗi ngày, để bất cứ người con đất Việt nào khi bước đi giữa đô thị phồn hoa cũng mang theo hình bóng của đảo xa.

Đó chính là tầng ý nghĩa sâu xa nhất của nhan đề Biển thức trong phố. Biển không còn là một khái niệm nằm cách trở muôn trùng ngoài khơi xa. Biển đã hóa thành ký ức, thành nếp nghĩ, và hơn hết, biển đang thức sâu thẳm trong lòng mỗi người dân Việt Nam hôm nay và mai sau.

N.C.T

Tập thơ "Biển thức trong phố" theo tác giả trở lại với biển, đến với cán bộ, chiến sĩ trong chuyến công tác các đảo biển Tây Nam và Nhà giàn DK1, tháng 9/2026:


Bài viết liên quan

Xem thêm
Tiến sĩ Nguyên Hùng lặng lẽ theo bóng tiền nhân
Bài đăng báo Nông nghiệp & Môi trường
Xem thêm
Bàn tròn văn học kỳ 43: Một địa chỉ tinh thần
Nếu Bàn tròn Văn học số 42 đặt ra câu chuyện về vị trí của một diễn đàn văn nghệ trong đời sống văn hóa của một đô thị lớn, thì ở số này, chúng tôi muốn lắng nghe những cảm nhận từ chính những người đã từng gắn bó với diễn đàn ấy.
Xem thêm
Bàn tròn văn học kỳ 42: Một chỗ đứng cho Diễn đàn văn nghệ
Tinh gọn bộ máy là chủ trương lớn và cần thiết. Xin không phủ nhận điều đó. Nhưng giữa những phép tính về đầu mối và biên chế, có những giá trị rất khó cân đong bằng con số.
Xem thêm
Lê Khánh Mai – “Oan nghiệt phận thơ” và hành trình bứt phá của một tâm hồn nữ
Lê Khánh Mai – “Oan nghiệt phận thơ” và hành trình bứt phá của một tâm hồn nữ
Xem thêm
Nguyễn Thái Sơn: Cõi thơ như một cách cầm cự với hư vô
Nguyễn Thái Sơn không thuộc mẫu nhà thơ ồn ào giữa những cuộc cách tân và tranh biện thi đàn. Ông lặng lẽ đi con đường riêng của mình — như một người lính “vừa đi vừa nghĩ”, mang theo ký ức chiến tranh, những ám ảnh về cái chết, sự tri ân và khát vọng để lại cho đời “một câu thơ thôi”.
Xem thêm
Sông Chanh, nơi bắt nguồn của tình yêu và nỗi nhớ
Mọi người thường nói, trong ký ức của mỗi chúng ta, ai cũng có một dòng sông tuổi thơ, dòng sông kỷ niệm. Đối với Nguyễn Vĩnh Bảo, có lẽ dòng sông tuổi thơ ấy chính là sông Chanh – con sông gắn bó với anh suốt cuộc đời, từ khi ấu thơ đến lúc trưởng thành thoát ly rồi vào phương Nam lập nghiệp.
Xem thêm
Nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đức Hạnh: “Khát cháy” để tận hiến
Khát cháy là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh, do NXB Văn học ấn hành giữa năm 2025. Tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Nguyên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ chuyên ngành Ngữ văn, Nhà giáo Ưu tú, nguyên Giám đốc NXB Đại học Thái Nguyên, hiện đang công tác tại Đại học Thái Nguyên.
Xem thêm
“Hốc Chọ” – nơi mã Nghệ kết tinh
Không đọc Hốc Chọ như một câu chuyện, Lê Trang chọn lần theo “mã Nghệ” — nơi căn tính con người hiện ra qua chịu đựng, gắn bó và ngôn ngữ.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyên Hùng: Cánh buồm thao thức giữa dòng đời
Thú thực, có những bài viết về mình khiến ta… hơi ngượng vì hơi quá ưu ái lời khen. Nhưng cũng có những bài khiến ta trân trọng, bởi sự thấu hiểu và chân tình của người viết. Bài sau đây của tác giả Lê Ngọc Tú là một trường hợp như thế.
Xem thêm
Học viết văn ở đâu? Ai dạy?
Bàn tròn Văn học kỳ này trân trọng giới thiệu bài viết của TS Hà Thanh Vân – một nhà phê bình đam mê du lịch – vừa đăng lên FB cá nhân, trên đường tới núi Côn Luân (Trung Quốc)cool.
Xem thêm
Mùa xuân viết cho những hành trình không mỏi
Trong những ngày đầu xuân, PGS-TS Hồ Thế Hà đã viết đôi dòng cảm nhận về thơ Nguyên Hùng như một lời khai bút tri âm. Xin cảm ơn tác giả, và trân trọng chia sẻ lại bài viết này – như một nhịp cầu lặng lẽ nối giữa thơ và những tấm lòng đồng điệu.
Xem thêm
Thế nào là thơ hay?
Bài đăng Tuần báo Văn nghệ
Xem thêm
Bàn tròn kỳ 40: Di sản Hán – Nôm và khoảng trống không thể bù đắp
Di sản Hán – Nôm và khoảng trống không thể bù đắp – một cuộc đối thoại cần thiết từ Bàn tròn Văn học.
Xem thêm
Tản mạn chuyện thẩm thơ - bài 4
“Tản mạn chuyện thẩm thơ” là những suy ngẫm chỉ chu, điềm đạm của PGS-TS Vũ Nho về thơ, về nghề và về trách nhiệm với chữ.
Xem thêm
Sau những bước chân là ngọn lửa đời
Nhà thơ Trần Quang Khánh cảm nhận về“Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong”- tập thơ của nhà thơ Trần Kim Dung
Xem thêm
Bàn tròn kỳ 39 - Khi văn chương bị đẩy ra pháp đình đạo đức
Chùm thơ Nguyễn Khoa Điềm và những điều suy ngẫm
Xem thêm
Tản mạn chuyện thẩm thơ - bài 3
Cũng có thể cô lấy chồng do một sự ép uổng nào đó, và bây giờ cô chê anh ta. Nhưng liệu cô đã vượt qua được khó khăn, đã tháo cởi nổi chiếc “gông đeo cổ” ấy?
Xem thêm
Ba tiếng nói – một sự thật nhân văn
Viết về chiến tranh —bằng tình yêu con ngườivà lòng nhân ái hiếm có.
Xem thêm