- Ngôn ngữ-Lý luận - Phê bình
- Biển thức và biển nhớ trong thơ Nguyên Hùng
Biển thức và biển nhớ trong thơ Nguyên Hùng
VỀ THƠ VĂN NGUYÊN HÙNG
(Mời click vào dòng chữ trên để truy cập chuyên mục)
Từ góc nhìn phê bình sinh thái và triết mỹ, PGS-TS, nhà thơ Hồ Thế Hà đã có những phát hiện sâu sắc về hiện thực biển và tâm thức biển trong tập thơ Biển thức trong phố của Nguyên Hùng. Không chỉ khảo sát cảm hứng về Tổ quốc, người lính và chủ quyền biển đảo, bài viết còn làm sáng rõ mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa trải nghiệm đời sống và sáng tạo thi ca. Cánh buồm thao thức trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nguyên Hùng là nhà thơ chuyên nghiệp có hành trình sáng tác lâu dài đam mê và trách nhiệm. Nhưng anh không quan niệm viết nhiều, viết nhanh là tốt mà anh cho rằng “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Viết chậm mà chắc và tinh tuý, gắn thơ với con người và cuộc sống luôn không ngừng vận động và đang đập vào thơ muôn ngàn ngọn sóng mới là đối tượng sống còn để có thơ hay, thơ có ích. Ngoài các tác phẩm bút ký, thơ nhạc và tiểu luận văn học, đến nay, Nguyên Hùng đã có 08 thi tập được ấn hành và được người đọc tiếp nhận nồng nhiệt. Đề tài sở trường mà anh quan tâm gắn bó và thể hiện là hiện thực biển và tâm thức biển trong muôn vàn mối quan hệ bản chất và quan hệ tương tác để hình thành nên nhiều tiêu điểm tư tưởng - thẩm mỹ - nghệ thuật cho thơ. Tiêu đề những tập thơ thành công của anh như: Cánh buồm thao thức, Sóng không từ biển, Bay về phía bão, Biển thức trong phố… đã kết tinh điều đó một cách cụ thể và chân thật, phản ánh cảm quan nghệ thuật, điểm nhìn nghệ thuật và hình tượng cái tôi đang tư duy trong thơ anh rất linh động.
Để minh chứng cho nhận định trên, trong bài viết ngắn này, tôi muốn tìm hiểu sự đa thanh và tương hợp về ngôn từ, hình tượng và tư tưởng thơ Nguyên Hùng trong tác phẩm mới nhất của anh: Biển thức trong phố do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2026.
Có thể nhận xét một cách khái quát về chất thơ và hồn thơ Nguyên Hùng ở tập thơ này như sau: Hành trình ra đi và trở về trong hiện thực và tâm tưởng của Nguyên Hùng từ đất liền đến biển và ngược lại, từ biển về lại đất liền đã làm cho chất thơ và hồn thơ anh giàu có hơn trong thức nhận và hành động cũng như trong sáng tạo thi ca. Anh luôn mở lòng mình hướng ra cuộc sống khơi xa trong đối sánh với cuộc sống nơi đất liền, bình tâm mở lòng mình đón nhận những biến động của không gian sinh thái biển và thể hiện chúng thành thế giới thơ thấm đẫm tình người, tạo thành quan hệ đời tư - thế sự mang tính hiện thực, kết tinh thành thực thể biển và tâm thức biển bất ngờ, xúc động. Chính điều đó đã làm cho thơ anh có sự hoà quyện giữa những cảm hứng lớn về đất nước, nhân dân và người lính với cảm hứng về biển đảo trong khát vọng điều bình, chiến đấu và bảo vệ sự giàu đẹp và chủ quyền biển đảo thông qua cảm thức đầy thao thức và trách nhiệm của người cầm bút. Chính cái tôi công dân và cái tôi nghệ sĩ thông qua sự kiểm nghiệm sự sống thật từ biển đã làm nên hồn thơ Nguyên Hùng vừa hiện thực và lãng mạn, vừa khái quát và cụ thể, vừa trữ tình và triết mỹ.
Tập thơ được cấu trúc thành 6 phần có chủ đích của tác giả. Phần I - Bến bờ nhớ, PHẦN II - Máu thịt biển trời, PHẦN III - Mầm xanh đảo đá, PHẦN IV - Những dáng đứng thầm lặng, PHẦN V - Những con tàu không ngủ, PHẦN VI - Biển còn thức mãi. Từ đó, anh đúc kết hiện thực thành những tiêu điểm thẩm mỹ sâu sắc nhằm thông điệp đến người đọc về những gì có liên quan đến con người và sinh thái biển, làm hiện lên sự sống thật của nhân dân và người lính nơi trùng dương bão tố đang từng ngày đêm canh giữ biển trời để bảo vệ những giá trị trường tồn và thiêng liêng nhất của Tổ quốc.
Từ cấu trúc tác phẩm mang tính logic chỉnh thể như trên, Nguyên Hùng thể hiện cảm xúc của một người sắp mang tình yêu từ đất liền đến biển với nỗi nhớ đang thao thức vẫy gọi: “Từ quê biển, tôi lại về với biển/ Chặng đường quen mà gió bỗng khác đi/ Nghe trong ngực một Trường Sa hiển hiện/ Chưa tới nơi… mà sóng đã thầm thì”. Đến để được lắng nghe trong từng hồng cầu và nhịp thở của mình hình tượng biển - lãnh hải muôn đời cha ông để lại: “Tôi sẽ đến thăm những đảo chìm đảo nổi/ Tổ quốc ta - thương đến nhói lòng/ Mỗi tấc biển đang từng giờ dậy sóng/ Mãi tạc hình bằng máu thịt cha ông”. Đến biển để nghĩ suy và biết ơn tiền nhân trong từng cảm giác bé nhỏ của mình, để hiểu giá trị máu xương của cha ông từ muôn đời đổ ra để sở hữu và bảo vệ vẹn toàn lãnh hải:
Và như thế… giữa mênh mông biển nước
Tôi lặng im, để sóng nói thay lời
Chỉ nghe rõ trong mình điều thao thức:
Biển cũng là máu thịt của đời tôi!
(Trước ngày ra Trường Sa)
Nguyên Hùng yêu biển và tìm về với biển, mang theo tình nghĩa đất liền bằng sức mạnh của truyền thống văn hoá và lịch sử để càng khẳng định sức sống vững chãi của biển cả và lòng người: “Mang theo hơi ấm xóm làng/ Mang câu ví giặm mơ màng tuổi thơ/ Mang theo dáng mẹ đợi chờ/ Neo hình Tổ quốc dưới cờ ông sao”. Sức mạnh ấy càng được khẳng định khi nơi đây: “Bốn bề chỉ lính với đèn/ Mà chân sóng vỗ ngược lên đỉnh trời”. Và chỉ có các anh là người hiên ngang giữa bão giông để mỗi người là một ngọn hải đăng mặt biển: “Chính anh lính trẻ kiên trung/ Mang theo hồn nước,/ canh chừng biển khơi/ Để từ mỗi nhịp tim người/ Việt Nam đứng vững giữa trời sóng vây” (Mang đất liền ra biển). Đến biển để được thấy màu cờ bay bốn mùa giữa trùng dương bát ngát và được nghe bài ca tổ quốc vang dậy giữa Trường Sa: “hồn thiêng sông núi của quê nhà”. Hình tượng người lính lặng thầm, nghiêm trang giữa bốn bề sóng gió chính là biểu tượng của linh hồn đất nước và chủ quyền lãnh hải Việt Nam, không sức mạnh nào dám âm mưu tiêu diệt:
Một dấu lặng giữa trời Tổ quốc
Trên biển xanh cờ đỏ tung bay
Đất nước dâng đầy trong lồng ngực
Quốc ca hừng hực trong tim này.
(Chào cờ giữa Trường Sa)
Giữa cuộc sống đời thường, mọi diễn biến của con người và cảnh vật như mạch ngầm của tình người và tình đất nước cuộn trào từ lòng sâu biển thẳm để dâng lên thành những đợt sóng vỗ ngân bờ, để sau khi về lại đất liền: “Người ta nhớ những người lính biển/ Đứng canh trời nước giữa trùng dương” (Hơi ấm giữa hải trình). Hơn ai hết, tiếp xúc với môi sinh biển, Nguyên Hùng nhận ra mọi sinh hoạt thường ngày ở biển không đồng nghĩa với hoạt động thường nhật ở đất liền, bởi nó được diễn ra trong muôn vàn khó khăn và thử thách. Vì vậy, nhân dân và thuỷ thủ phải sống theo nhịp của sinh thái thiên nhiên và sinh thái đạo đức xã hội - tinh thần theo cách riêng của mình để chiến thắng hoàn cảnh. Điều này đã được Karl Marx nói trong tác phẩm nổi tiếng Gia đình thần thánh (1845) rằng: “Nếu như tính cách con người được quy định bởi hoàn cảnh, thì cần phải làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn đối với con người”. Vì vậy mà mọi đối lập, gián cách trở thành hoà hợp và gần gũi trong ý thức điều bình giữa con người và cảnh vật: “Biển rộng quá/ nên người gần nhau hơn/ Gió mạnh quá/ nên tiếng cười nghe ấm”. Không gian và thời gian đêm ở biển đã được con người hoá giải theo tâm lý tự tin, vượt lên hoàn cảnh để tồn tại, tương sinh và tương hỗ:
Khuya rồi
đèn boong còn thức
tàu vẫn đi, đảo còn xa
chỉ thấy giữa ngàn sóng tối
một khoảng quê nhà chòng chành
và những tấm lòng bện chặt vào nhau.
(Những đêm boong tàu)
Đến với biển là đến với không gian sự sống sinh tồn qua bao dập dồn giông gió mà ở đó mọi hoạt động dường như thanh thản đến tin yêu. Từ cây bàng vuông lá bốn mùa xanh, cọng rau muống vươn mình, ngôi chùa lặng lẽ sau mưa hay lăng nhỏ Bác Hồ, những đảo chìm đảo nổi, những chứng tích bi hùng nơi 64 chiến sĩ ở đảo Gạc Ma anh dũng hy sinh, nơi mỗi thân tàu ôm ghì bãi đá… đều mang hồn sự sống mạnh mẽ giữa phong ba, bão táp. Nơi bảo tàng biển đảo, nhà thơ được viếng tượng Bác Hồ với mi cay, mắt ướt: “Giữa biển xa ngàn trùng cách trở/ Giữa Trường Sa nắng gió vênh trời/ Được thắp nén nhang nơi đảo nhỏ/ Hương khói theo con mãi chẳng rời”. Viếng Bác nơi biển xa càng thương Bác, càng nghĩ và nghĩ về dòng giống Tiên Rồng cùng non cao biển rộng: “Chúng con đến sau hải trình biển động/ Càng hiểu thêm hai tiếng non sông/ Càng thương Bác cả đời xuôi ngược sóng/ Tô thắm giang sơn giống Lạc Hồng”. Đến Trường Sa, tầm vóc và suy nghĩ của mỗi người Việt Nam yêu nước giờ đây được khẳng định và trưởng thành:
Đâu phải mọi người đều có được
Một lần ra tận đảo Trường Sa
Được viếng Bác giữa biển trời mây nước
Lòng càng thêm tha thiết nước non nhà…
(Viếng Bác giữa Trường Sa)
Đến như mái chùa và tiếng mõ ngân vang giữa muôn trùng sóng gió cũng làm cho nhà thơ và mọi người thay đổi thực đơn tinh thần và thực đơn tâm hồn để mọi người có tư thế và tâm thế khác: “Giữa muôn trùng sóng gió Trường Sa/ Một mái chùa giữ hồn đất Việt/ Tiếng chuông chiều loang vào mây biếc/ Gợi nhớ về nguồn cội bốn ngàn năm”. Tiếng chuông chùa là biểu tượng cho những gì đồng nghĩa tình thương và sự thức tỉnh nhận thức và giác ngộ chân lý: “Người lính đảo quanh năm canh biển/ Giữa phong ba chẳng kể nỗi niềm riêng/ Từng đêm gác, dẫu khi giông bão đến/ Nghe chuông chùa, chợt thấy bình yên”. Tiếng chuông còn gợi sự an yên và liên tưởng đến màu nâu bình dị nơi ruộng rẫy quê nhà, giúp lòng người neo chặt tình quê và giữ ấm hồn dân tộc:
Tôi gặp nơi Trường Sa sóng gió
Mái chùa cong, lãng đãng khói nhang bay
Áo lính hòa màu nâu thanh tịnh
Neo hồn quê giữa biển trời này.
(Mái chùa giữa biển)
Còn biết bao mối quan hệ thiêng liêng, xúc động khác gợi nhớ thương, tự hào và ơn nghĩa, nhất là đối với người lính đảo, mắt nhìn xuyên gió bão. Màu xanh còn đây và sự sống mãi còn đây để chiều về đàn hải âu tung cánh bay xa thành ngàn chấm sáng phía trùng trùng mây nước: “Đến Trường Sa, gặp Người giữa biển/ Không phải trong trang sách đã quen/ Không phải giữa những chiến công lừng lẫy/ Mà trong màu xanh của đảo bình yên” (Dấu chân người trên đảo Sơn Ca). Đến biển Đông và Trường Sa mà không đến vùng đảo đá Gạc Ma thì chúng ta sẽ đánh mất đi lòng biết ơn và ân nghĩa, mất đi lòng tự hào và có lỗi với 64 anh hùng, liệt sĩ đã anh dũng hy sinh để bảo vệ sự vẹn toàn chủ quyền lãnh hải. Những cánh tay các anh đã kết thành vòng tròn bất tử Gạc Ma trong lòng nhân dân và Tổ quốc. Nguyên Hùng đã đến nơi chứng tích thiêng này và nhận ra ánh sáng của ngọn lửa yêu nước của các anh bằng phần còn lại hữu hình và phần tâm linh vô hình để tất cả lại hiện lên thành những ánh mắt nhìn ngàn năm sau vẫn sáng. Tình yêu Tổ quốc và sự hy sinh anh dũng của các anh đã hoá thân vào lòng biển thẳm để phục sinh mọi sự sống của Tổ quốc: “Chiều nay giữa khói hương tưởng nhớ/ Nghe như đất nước gọi tên người/ Tiếng còi tàu hụ dài theo gió/ Run cả tầng mây phía cuối trời”. Tiếng hô xung phong diệt thù của các anh còn vang vọng giữa biển khơi và trong đêm trăng huyền ảo, có một Tổ quốc Việt Nam dựng giữa lòng dân và lòng biển thẳm lung linh màu đỏ thắm:
Đêm xuống. Trăng òa trên mũi sóng
Tiếng các anh vọng khắp biển khơi
Tổ quốc là đây - từ giọt máu
Hóa thành tiếng gọi: Việt Nam ơi…
(Giữa biển còn nghe tiếng các anh)
Cuộc sống đang đập vào anh và vào thơ anh muôn vàn lớp sóng, giúp anh nghĩ về những điều mọi người đang nghĩ và cha ông ta trước đây đã nghĩ, rất bình dị mà thiêng liêng, cao đẹp: “Không ai nói nhiều về ngày máu đổ/ Một bè hoa trầm mặc thả bên tàu/ Những cánh hạc dẫn đường theo lối gió/ Hoa tìm đến linh hồn nơi biển sâu”. Ở đâu cũng hiện lên màu xanh sự sống và tiếng gọi dạt dào tự đáy thẳm đại dương: “Biển vẫn xanh và trời mây không lạ/ Nhưng Cô Lin nay đã khác xưa rồi/ Kiên gan chống trăm bão giông, hiểm họa/ Nghe sau lưng… tiếng bước giữa trùng khơi” (Tiếng đáy biển vọng về). Nơi đâu giữa cuộc sống đời thường nơi biển đảo, Nguyên Hùng cũng cảm và luận, đối thoại, độc thoại và linh thoại với chung quanh để nghĩ về những gì đồng nghĩa với sự sống và sự tái sinh mầu nhiệm:
Tôi đứng lặng, thương sao vòm lá
Nghe hàng cây như muốn thốt lời
Qua bão tố vẫn không gục ngã
Vươn cành xanh che chở con người
(Dưới vòm xanh Nam Yết)
Nguyên Hùng luôn chiêm quan hiện thực đời thường, nhưng chắt lọc và phát hiện những điều mới mẻ, có sức ám ảnh về sự sống thật ở cõi người: “Tôi đã gặp những bàn tay cháy rám/ Nâng niu từng dây mướp, quả cà/ Có chiến sĩ nhìn cây đu đủ chín/ Mắt ánh vui như vừa nhận thư nhà”. Từ đó, anh nghĩ về những điều cao hơn, kết tinh hơn từ những điều bình dị, nhưng cần cho con người hơn là cần cho chính chúng: “Những giàn bí leo ngang mái đảo/ Che khoảng sân chang chói miền khơi/ Dây mồng tơi bò quanh ụ pháo/ Mềm một miền thương dịu mắt người”. Mọi sự vật, sinh thể dưới mắt nhìn liên tưởng thực chứng và luận suy theo triết học hiện tượng luận của Nguyên Hùng, chúng đều trở thành những thực thể có linh hồn và hành động: “Giữa đảo xa xôi tôi chợt ngẫm/ Không riêng súng đạn giữ chủ quyền/ Có luống rau âm thầm giữ biển/ Bằng màu xanh rất đỗi bình yên” (Màu xanh trên đảo xa). Chính cái nhìn có tính triết mỹ như thế đã giúp tác giả phát giác và phát hiện được những quan hệ “thiên nhân tương dữ” rất bất ngờ: “Những mầm cây mang theo phù sa/ học cách đứng lên trong bão gió/ học cách xanh trong nắng lửa/ bền bỉ như người lính đảo xa”.
Chúng tôi gieo xanh Trường Sa
không chỉ thêm một khoảng trời rợp mát
mà để lại giữa biển xa
màu bình yên Tổ quốc.
(Gieo xanh giữa trùng khơi)
Trong ý nghĩa cộng sinh vẹn tròn của Tổ quốc, mỗi hòn đảo nhỏ đảo to, đảo chìm đảo nổi đều như cùng con người - chủ thể ý thức gánh vác non sông: “Ở nơi đất hiếm như vàng/ mỗi nắm đất đều được chắt chiu gom góp/ chúng tôi ươm cây bằng tình yêu lính biển/ và những giọt mưa lành nâng niu”. Thăm một lớp học ở Trường Sa, anh không khỏi xúc động trước cảnh tượng: “Nhìn lớp ít học trò mà thương/ Anh lớp Bốn ngồi bên em lớp Một/ Bảng đen nhỏ chia nhiều hàng cột/ Mỗi ô vuông là một bài học riêng”. Từ đó, anh dự cảm về những điều cao đẹp trong tương lai bừng sáng, nghĩ về những gì cần có và sẽ tồn tại: “Ngoài ô cửa là cả trùng dương/ Mỗi ngày thêm một chân trời rộng mở/ Các em học cùng mây, cùng gió/ Để mai kia nghe bài học cuộc đời” (Ô cửa lớp nhìn ra biển). Nguyên Hùng luôn nghĩ suy và trăn trở trước những hiện thực đời sống để nói lên hiện thực tâm trạng không chỉ của riêng mình mà còn chính là của mọi chủ thể để nghiệm suy và thông điệp về những vấn đề lớn lao, trọng đại của Đất nước: “Ở Trường Sa Đông/ một ngọn hải đăng dựng thẳng giữa trời/ / Đôi khi/ không cần đứng thật cao để nhìn biển/ chỉ cần ngồi cạnh người giữ biển/ đã thấy biển trong lòng”. Ngọn hải đăng sẽ thành người canh giữ biển trời, điều hướng những hải trình đi đến đích của ước mơ và sự thật: “Đêm xuống/ ngọn hải đăng kia rồi sẽ thức/ ánh sáng quét ngang biển rộng/ dẫn những con tàu về đúng hướng”. Từ đây, trong lòng nhà thơ, hiện hữu một ánh sáng khác rất đời thường, nhưng là kết tinh của tình yêu người lính: “còn tôi/ mang theo một ánh sáng khác”. Ánh sáng đó: “không ở đỉnh tháp/ mà ở dưới chân tháp/ nơi có người lính đảo/ lặng lẽ giữ biển trời/ để những người trở về đất liền/ còn mang theo ánh sáng” (Đèn biển Trường Sa Đông).
Từ cái nhìn lý luận sinh thái học, nếu trước đây, người ta xem con người là trung tâm (human-centred) của sinh thái, thì ngày nay, con người được đặt trong mối quan hệ bình đẳng với thiên nhiên. Đây chính là cái nhìn nhân văn mới của triết học hiện đại mà Nguyên Hùng đã nắm bắt và thể hiện bằng thơ một cách mới mẻ, khách quan, sinh động từ thiên nhiên đến con người nơi thực thể biển: “Những hàng cây mong đến ngày bén rễ/ Những mái nhà chờ đón bước chân ai/ Những bể nước ngóng trời trong nắng lửa/ Đảo khát mưa thao thức những đêm dài”. Người lính ngất ngây đón những cơn mưa rào đầu hạ như đón nhận sự mát lành từ thiên nhiên ban tặng, giúp cho họ lạc quan, yêu đời, biến mọi gian khổ thành niềm vui tái sinh kỳ diệu để làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng:
Người lính ngất ngây trong mưa đầu hạ
Đất hồi sinh sau nhiều tháng khô hanh
Mỗi giọt nước mát lan từng kẽ đá
Thấm sâu vào lòng đảo giữ màu xanh
(Mưa trên đảo Sơn Ca)
Chúng trở thành đường chân trời mơ mộng muôn đời như những cổ mẫu thiêng (sacred archetypes), luôn tồn tại trong tâm thức mọi người: “Trường Sa Đông - thoáng một vòng/ Biển xanh như mở tận cùng trời mây”, “Ngọn đèn biển ngỡ cô đơn/ Nhưng là bạn với sóng cồn gió khơi/ Đêm đêm lặng lẽ canh trời/ Soi từng con nước, thầm mời tàu qua” (Một thoáng Trường Sa Đông). Đến như những chú chó nhỏ ở Trường Sa cũng được Nguyên Hùng nhân hoá thành những người bạn của người lính đảo để yêu thương và quấn quýt: “Một chú chó nằm ngủ/ Ngay mép nước thủy triều/ Sóng lao xao vừa đủ/ Nắng chiều nghiêng bóng xiêu/ / Ở đảo xa nắng gió/ Ai cũng hóa người quen/ Lính thương như bạn nhỏ/ Khách xa về gọi tên” (Chú chó ngủ mép nước).
Hiện thực biển đảo trong thơ Nguyên Hùng là hiện thực được nhà thơ thổi vào tình người, tình đất, tình yêu quê hương xứ sở nối liền biển và bờ, châu thổ đất liền với bát ngát trùng khơi. Hình ảnh người chiến sĩ quân y cũng trở thành sức mạnh thầm lặng cho sự sống cộng đồng “Đêm đêm giữa gió trùng khơi/ Có người thức giữ nhịp đời-biển-xa/ Đang nghe sóng nước ập òa/ Chợt vang tiếng gọi vọng qua trước thềm”. Phép màu bình dị mà có giá trị cứu rỗi, tái sinh niềm tin, giữ nhịp cho sự hồi sinh, hy vọng: “Đảo xa nào có phép màu/ Chỉ người thầy thuốc cúi đầu thức canh/ Giữ cho đường thở mong manh/ Vượt qua khoảnh khắc tử sinh chập chờn”. Ngay cả những người thiện nguyện từ đất liền mang tình yêu và tâm đức đến đảo xa cũng trở thành biểu tượng của lòng nhân ái Phật pháp, xoa dịu nỗi buồn, thức tỉnh tình người cao đẹp cho con người và cảnh vật: “Đem hơi ấm đất liền ra cùng gió/ Cho đảo xa thêm một nét bình yên”. Vẫn trong tư thế chân tâm thầm lặng, những tấm lòng thiện lành đã chạm đến tình người sâu thẳm: “Họ lặng lẽ bên mái chùa, góc đền/ Như hương trầm tỏa thầm trong gió/ Chỉ mang theo một tấm lòng rộng mở/ Cho Trường Sa xanh mãi một niềm tin”. Bài thơ Quạt gió Trường Sa là biểu tượng cho tinh thần đồng vọng ấy giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, tạo vật: “Từ ngoài khơi, qua những ngày gió xiết/ Quạt dang cánh tay thân thiện vẫy chào/ Tàu bè bạn đi ngang miền biển Việt/ Nhận biết Trường Sa từ những ánh sao”. Mối quan hệ tương hỗ trên được Nguyên Hùng thức nhận và khái quát thành tiêu điểm thẩm mỹ, thành tín hiệu của sự tồn sinh đất nước:
Không khắc chữ, tháp vươn ngạo nghễ
Tự thân làm cột mốc giữa biển trời
Tôi đứng ngắm những vòng quay lặng lẽ
Chính nơi đây - đất Việt tự bao đời!
(Quạt gió Trường Sa)
Cứ thế, để tồn tại, con người và từng người lính biển phải tự mình làm nên sự sống trong muôn ngàn khó khăn, vất vả: “Trên thềm lục địa mênh mang gió/ Nhà giàn treo giữa nước và mây/ Thép cứng gan lì ngăn giông tố/ Thép mềm gom nắng để nuôi cây”. Nhờ vậy, họ mới nuôi lớn niềm tin vượt mọi phong ba, thử thách: “Người lính biển học chắt chiu từ nắng/ Như quê nghèo dành dụm lúa mùa giông/ Gom ánh sáng gửi vào đêm biển vắng/ Để ngôi nhà bớt lạnh giữa mênh mông” (Gom nắng giữa biển). Nguyên Hùng đã thực sự nhập vai vào từng đối tượng, cảnh vật và từng trạng thái tình cảm của những con người giữ đảo để đồng cảm, nghĩ suy và chia sẻ: “Tôi sinh ra từ làng chài Cửa Hội/ Biết nỗi lo của những chuyến ra khơi”. Vì vậy mà mỗi người tự coi mình là một cột mốc của biển Đông để yêu thương, gắn bó: “Là dân biển, đến Trường Sa càng thấy/ Đảo và ngư dân không thể chia lìa/ Với dân biển, các đảo nơi xa ấy/ Là chốn tin yêu để họ tìm về” (Cho tàu lại ra khơi). Bài thơ Nương vào nhau giữa biển là tình cảm nặng sâu ấy của Nguyên Hùng, xét cả ý nghĩa hiện thực lẫn tâm cảm, linh cảm:
Từ Cửa Hội Cửa Lò quê mẹ
Tôi lớn lên cùng vị mặn phù sa
Biết tiếng sóng không chỉ là sóng bể
Và cánh buồm không chỉ hướng khơi xa
Từ hiểu đến đồng cảm và sáng tạo là cả quá trình nhận thức và thực chứng để thấy mình cũng là một chủ thể đồng hành, đồng vọng phía quê nhà: “Ra Trường Sa bỗng thấy như quen thuộc/ Giữa biển xa vẫn có những làng chài/ Đèn tàu cá kết nhau thành xóm nhỏ/ Nương vào nhau qua sóng cả đêm dài”. Mỗi chuyến hải trình lênh đênh trên sóng nước là mỗi vui buồn thầm lặng gửi người thân để nơi quê nhà, mọi người xoá hết mọi âu lo và tin yêu vào tinh thần chiến đấu và chiến thắng của mình, giữ vững chủ quyền biển đảo: “Giữa ngư trường muôn trùng giông bão/ Họ đến đây làm cột mốc không tên/ Dẫu biển động, người không rời biển/ Chủ quyền in bóng những con thuyền”. Tất cả mọi quan hệ giữa sinh thái thiên nhiên và sinh thái xã hội đều tựa vào nhau để phục sinh, tồn sinh và phát triển:
Đêm Trường Sa, đèn tàu thức trắng
Cuối chân trời chim biển vịn nhau bay
Giữa bão giông, con người thầm lặng
Nương vào nhau giữ biển đến mai này.
(Nương vào nhau giữa biển)
Tất cả đều hoà tan trong âm vang biển thức, chong mắt về đường chân trời xa tít và hướng về đất liền trong viễn cảnh hiện hữu một bức tranh lao động sôi nổi giữa đại dương vừa để khẳng định tâm thế của người lính và ngư dân vừa đồng nhất hoá những niềm vui nơi hai đầu nỗi nhớ: “Đêm yên tĩnh giữa bốn bề mây nước/ Biển Trường Sa thăm thẳm tận chân trời/ Dải ngân hà như ai vừa kéo xuống/ Lấp lánh miệt mài trên sóng chơi vơi”. Và vì vậy mà lòng người nơi bốn bề sông nước không bao giờ cách xa và đơn độc: “Nơi ấy những con tàu không đơn độc/ Không chỉ lo đánh cá sớm chiều/ Giữa biển lớn người thành cột mốc/ Lặng lẽ cùng lính đảo giữ tiền tiêu”.
Đêm vẫn thức. Đèn câu chưa chịu tắt
Như mắt người không ngủ phía khơi xa
Mỗi đốm sáng giữa mênh mông tiếng biển
Một lời thề thầm lặng với sơn hà…
(Đêm đèn câu Trường Sa)
Hành trình ra đi theo lời biển gọi của Nguyên Hùng để đến Trường Sa và nhà giàn DK1 vào đầu tháng 5 năm 2026 để trải nghiệm và sáng tác đã đem lại cho anh những giá trị nhận thức và hành động vượt ngưỡng mong muốn. Những hiểu biết trực quan qua chuyến đi này giúp anh nâng tầm nhận thức tư tưởng, xác tín cảm thức hiện sinh và tư duy sáng tạo của một người cầm bút khi nghĩ về những gì đồng nghĩa với tình yêu và sự sống, Tổ quốc và nhân dân, đảo xa và đất liền, lao động và chiến đấu, trách nhiệm và nghĩa vụ, đạo đức và lương tâm… Và niềm vui lớn hơn cả là từ những thức nhận trên đã giúp anh sáng tạo nên những tác phẩm mang hồn sự sống thật, xây dựng nên những hình tượng thơ chân thật, sinh động, thể hiện thành những tiêu điểm tư tưởng - thẩm mỹ thơ mang cảm hứng lớn, mà tập thơ "Biển thức trong phố" là kết quả của hành trình trở về từ biển làm lay động lòng người. Mỗi địa danh, mỗi di tích và trầm tích biển trở thành con dấu thi ca, hằn lên theo con chữ và bóng chữ của anh: “Những con dấu in lên trang kín mít/ Đỏ vòng tròn như dấu nắng quê hương/ Tên hòn đảo đi qua thành chứng tích/ Của một lần vượt sóng giữa trùng dương”. Nhà thơ mang theo dấu biển đó trong lòng để thành ký ức biển, thành kinh nghiệm quan hệ sống quý giá cho mình: “Trân trọng cất vào ngăn ký ức/ Mãi bên mình - dấu biển giữa đời tôi” (Dấu biển trong tôi). Tất cả những dấu biển vẫn còn đây trong hoài vọng và trong những giấc mơ tỉnh thức của người thơ: “Tôi gặp lại mình trong nắng trùng khơi/ Sắc đỏ nhỏ nhoi giữa ngàn xanh sóng gió/ Người đã về… mà hồn như còn đó/ Một Trường Sa sâu thẳm giữa tim mình”. Biển mãi còn đây trong lòng phố thức: “Có tiếng sóng nào từ biển xa vọng lại/ Khẽ chạm vào nỗi nhớ chẳng thành tên” (Biển thức trong phố nhỏ). Mọi luyến lưu níu nhịp con tàu, màu xanh biển thẳm níu cả hồn người bằng nghĩa tình và nước mắt: “Chia tay đảo, chiều nghiêng đưa võng/ Vòm xanh còn níu bước chân tôi/ Mai về phố dưới ngàn cây rợp bóng/ Vẫn nhớ màu xanh giữa biển khơi” (Dưới vòm xanh Nam Yết). Những cái bắt tay bồi hồi, những cái nhìn biết nói trở thành thông điệp không lời thao thức lòng người và thao thức mọi miền quê: “Có một miền quê thức cùng sóng biển/ Mỗi sớm mai mở cửa đón mặt trời/ Những con tàu chở theo hồn đất mẹ/ Nối đất liền với đảo giữa chơi vơi”. Ở đâu, bầu trời vẫn mở đường bay cho những gì không có cánh để đất liền nối biển đảo bằng khát vọng đại dương: “Nơi Tổ quốc trở mình ra biển lớn/ Mang Trường Sa trong hơi thở quê hương/ Biển không chỉ bắt đầu từ bờ cát/ Biển nối dài bằng khát vọng đại dương” (Khát vọng đại dương). Để mãi còn đây tình yêu thành biển thức trong lòng phố thị, nhìn lên sao trời biết biển xa vẫn đang chong mắt thức hướng về thành số đêm đêm: “Không chỉ giữ Trường Sa làm kỷ niệm/ Tôi mang về từ ấy một niềm tin/ Để giữa phố lòng đêm ngày hướng biển/ Thêm yêu hơn từng tấc đất mẹ hiền”. Và từ đó, Tổ quốc và biển khơi luôn vẫy gọi và hiện hữu trong mỗi hồn người:
Có chuyến đi khép rồi vẫn mở
Cho lòng mình theo cánh chim bay
Khi đảo xa gần lại tựa hơi thở
Tổ quốc trong ta lớn mỗi ngày…
(Trường Sa trong tôi)
Đó chính là hành trình ra đi từ thành phố và hành trình trở về từ biển của Nguyên Hùng. Và anh đã nhận lại những giá trị cân bằng về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nhân sinh và kinh nghiệm thành tựu thơ.
***
Đọc xong Biển thức trong phố của Nguyên Hùng, trong ta, mọi nhỏ nhặt, tầm thường biến mất, nhường chỗ cho những gì nhân văn, lớn lao, cao đẹp. Tác giả đã thực sự thao thức và nhập vai vào mọi đối tượng và mọi sinh vật, sinh thể biển để nghĩ suy về những vấn đề có liên quan đến sinh thái xã hội và sinh thái văn hoá đạo đức - tinh thần nơi biển đảo bằng tiếng nói thi ca. Tập thơ đã phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm hồn của nhân dân và người lính biển đảo một cách chân thật và chân cảm trong từng tình cảnh và hoàn cảnh điển hình. Trong ý thức nghệ thuật của tác giả, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên mà cụ thể là mối quan hệ giữa Nhân dân, Người lính và Biển Đảo không trừu tượng, trái lại rất cụ thể, ân tình qua từng cảnh tượng và cảnh tình; từ đó, nhà thơ khái quát, nâng lên thành tình yêu Tổ quốc, Nhân dân với thái độ và sự lựa chọn kịp thời, dứt khoát, theo phán đoán đúng. Tiếp cận tác phẩm Biển thức trong phố, giúp chúng ta ý thức về môi trường sống hiện tại của Đất nước trong ý nghĩa và mong muốn điều bình không gian sống, làm cho sinh thái thiên nhiên, sinh thái nhân văn và sinh thái văn hóa trở nên hài hòa, cao đẹp. Lãnh hải Biển Đông và lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam, trong mỗi chúng ta, bao giờ cũng vẹn tròn và bất diệt.
Vỹ Dạ, 10-2026
H.T.H